Major challenges for developing economies: lessons for Vietnam

Attention: open in a new window. PDFPrintE-mail

This policy paper discusses the impact of the current global financial crisis on developing countries and points to some of their most important economic challenges in 2009. We begin with the inflation-growth dilemma, then evaluate the potential of US crisis transmission to developing countries and finally address some possible policy answers. Despite the fact that the Vietnamese economy is highly dependent on finished product exports, our analysis calls for further reforms in economic structure to avoid crisis effects rather than the devaluation of the national currency. [Article in Vietnamese]. 

Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu với nguy cơ suy thoái đã hiện rõ ở hầu hết các nền kinh tế phát triển thuộc khối G7. Nếu như trước khủng hoảng nhiều chuyên gia kinh tế có đánh giá lạc quan về « sức đề kháng » của các nước mới nổi và đang phát triển (gọi chung là đang phát triển), sau hai tháng đầu năm 2009 đã có nhiều dấu hiệu cho thấy các nước này cũng đang đi vào suy thoái. Nguyên nhân cơ bản là mô hình kinh tế dựa vào xuất khẩu được cho là yếu tố thành công trong nhiều năm qua đã bộc lộ những yếu điểm trong điều kiện kinh tế giảm sút. Hai trong số các thách thức cơ bản của họ hiện nay là song đề lạm phát – tăng trưởng, và làm thế nào để tránh được những ảnh hưởng xấu đến từ suy thoái kinh tế Mỹ và các nước phát triển.

 

Bài toán lạm phát – tăng trưởng kinh tế

 

Như chúng ta đã biết, lạm phát tăng (gia tăng chỉ số giá cả - CPI) gây ra nhiều áp lực cho nền kinh tế, trong đó vấn đề nổi cộm nhất là sự phát triển bền vững ở góc độ kinh tế (tăng trưởng không tính đến lạm phát) và sức mua của người tiêu dùng ở góc độ xã hội, đặc biệt là sức mua của tầng lớp nhân dân lao động (công nhân, nông dân và tiểu thủ công nghiệp). Trong ngắn hạn thì công cụ chủ yếu của Nhà nước để kiểm soát lạm phát là chính sách tiền tệ. Cụ thể, ngân hàng Trung ương sẽ tăng mức lãi xuất cơ bản tiền gửi vào ngân hàng, đồng thời tăng lãi suất tín dụng cho sản xuất và tiêu dùng để giảm dòng tiền trong lưu thông. Việc áp dụng chính sách lãi suất này có thể đẩy lùi lạm pháp nhưng hệ quả lại là giảm tốc độ tăng trưởng vì cả nhu cầu nội địa lẫn đầu tư cho sản xuất bị hạn chế. Đây chính là biện pháp mà hầu hết các nước đang phát triển sử dụng để hạn chế lạm phát hai con số leo thang trong năm 2008. Với mức tăng chỉ số giá năm 2008 là 22% so với cùng kỳ năm 2007, Việt Nam là một ví dụ về sự thành công của chính sách kiểm soát lạm phát trong ngắn hạn.

 

Trong dài hạn, những giải pháp chủ yếu tập trung vào các cải cách mang tính cấu trúc dựa trên việc quản lý giá các nhóm hàng đóng góp vào chỉ số giá tiêu dùng, đặc biệt là giá các mặt hàng năng lượng đầu vào cho sản xuất. Khả năng dự báo nhu cầu, sự biến động giá cả xăng dầu trên thị trường quốc tế và mức dự trữ là các tham số cơ bản để tránh áp lực trực tiếp của tăng giá dầu như trong năm 2008. Sức mua của đồng tiền Việt Nam cũng là một biến số quan trọng. Trên thực tế, một đồng tiền nội địa yếu so với các đồng ngoại tệ chủ yếu trong giao dịch quốc tế sẽ làm tăng nguy cơ lạm phát. Một khi giảm giá đồng nội tệ không thể kiểm soát được, chúng ta sẽ phải đối mặt với lạm phát phi mã như trường hợp Zimbabwe hiện nay hay Argentina trong thời kỳ 2001-2002.

 

Tuy nhiên, khi lạm phát đã được kiểm soát một cách tương đối, vấn đề khởi động lại nền kinh tế lại không dễ dàng vì nó luôn đi sóng đôi với nguy cơ lạm phát quay trở lại thông qua việc hạ thấp lãi suất. Một chu kỳ mới của vòng luẩn quẩn của chính sách tiền tệ lại bắt đầu lại bắt đầu nếu các các giải pháp trong dài hạn không được chú ý đúng mức: kiểm soát lạm phát – kích thích tăng trưởng – kiểm soát lạm phát…Bài toán lạm phát – tăng trưởng càng trở nên khó khăn hơn trong thời kỳ kinh tế suy thoái như hiện nay.

 

Sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế từ các nước phát triển

 

Khi khủng hoảng nổ ra và làm tê liệt hệ thống tài chính-ngân hàng ở Mỹ, nhiều ý kiến cho rằng các nước đang phát triển sẽ không chịu nhiều áp lực trực tiếp và có thể sẽ là « lực đẩy » để kích thích lại sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Có thể dễ dàng nhận thấy rằng các nước đang phát triển bước vào « khủng hoảng » với các chỉ số tương đối tốt :

 

  • Các nước đang phát triển có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nợ nước ngoài ở mức thấp, và thặng dư thương mại lớn. Ví dụ, trong năm 2006 Trung Quốc có mức thặng dư thương mại là 9,4% thu nhập quốc dân GDP.
  • Đi đôi với thặng dư từ cán cân thương mại là gia tăng tích lũy ngoại hối, 3000 tỷ USD năm 2006 so với 1000 tỷ USD năm 2000. Rõ ràng, với vị thế này các nước đang phát triển sẽ ít phụ thuộc vào dòng vốn từ các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ và có nguồn lực để ổn định thị trường tài chính khi cần thiết.
  • Các nền kinh tế đang phát triển cũng ít phụ thuộc vào những biến động mang tính chu kỳ của Mỹ và các nước phát triển khác do đã có một thời gian tập trung vào việc phát triển thị trường trong nước, hội nhập khu vực, và kích thích cầu nội địa cho hàng hóa, dịch vụ sản xuất.

 

Theo đó, về lý thuyết tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước này sẽ không bị tác động lớn bởi khủng hoảng do ít phụ thuộc hơn với « trung tâm bão tài chính ». Tuy nhiên, những biến động kinh tế gần đây cho thấy nguy cơ suy thoái kinh tế đã bắt đầu lộ diện tại các nước đang phát triển với sự gia tăng của thất nghiệp và giảm tốc độ tăng trưởng theo các dự báo của Quỹ tiền tệ quốc tế (khoảng 4-5% so với 7,5% trung bình trong khoảng 10 năm trở lại đây).

 

Cuộc khủng hoảng hiện nay còn làm xuất hiện một vấn đề nan giải mới đối với các nước này. Đó chính là sự hạn chế của mô hình kinh tế phụ thuộc vào xuất khẩu (chủ yếu đối với các nước đang phát triển ở Châu Á) hoặc giá cả xuất khẩu các mặt hàng nguyên liệu đầu vào (chủ yếu đối với các nước đang phát triển ở Châu Mỹ La tinh) trong điều kiện kinh tế suy thoái và giảm nhu cầu tại các nước phát triển. Theo các số liệu thống kê gần đây, xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ của nhiều nước đang phát triển giảm mạnh, ví dụ mức giảm của Trung Quốc là 17,5% so với tháng 1 năm 2008 và của Hàn Quốc là 32,8% so với tháng 2 năm 2008. Như vậy, sự ảnh hưởng sẽ lớn đối với các nước có mức hội nhập kinh tế và thương mại cao, hay nói khác hơn là các nước có tỷ trọng xuất khẩu cao trong thu nhập quốc dân.

 

Giải pháp nào ?

 

Để tránh nguy cơ suy thoái, các nước đang phát triển phải tìm mọi cách để lấy lại nguồn thu nhập từ xuất khẩu. Một số nước như Hàn Quốc, Trung Quốc và Thái Lan chủ động làm mất giá đồng tiền nội địa để hỗ trợ xuất khẩu (nâng cao khả năng cạnh tranh về giá) và chiếm lĩnh thị trường trở nên hạn hẹp sau khủng hoảng do giảm sức mua tại các thị trường phát triển. Nhiều chuyên gia kinh tế cũng cho rằng Việt Nam nên giảm giá dần dần đồng tiền Việt Nam để kích thích xuất khẩu và tiến đến hạn chế thâm hụt cán cân thương mại giống như các nước Châu Á khác. Khuyến cáo này có vẻ có lý nếu nhìn vào tỷ trọng xuất khẩu trong nền kinh tế Việt Nam (77% GDP năm 2007 và khoảng 90% GDP năm 2008) và thâm hụt cán cân thương mại (-9,9% GDP năm 2007 và -11% GDP năm 2008). Tuy nhiên đây chỉ là giải pháp tình thế, không tạo ra được ổn định kinh tế lâu dài và không giải quyết được nguyên nhân sâu xa của suy thoái là giảm cầu tiêu dùng, vì một số lý do sau :

 

  • Thứ nhất, phá giá đồng tiền Việt Nam sẽ đưa đến giảm sức mua của người tiêu dùng trong nước. Nếu sức mua giảm trong dài hạn và lớn hơn sự giảm giá của đồng nội tệ, áp lực xã hội sẽ gia tăng, đặt ra nhiều khó khăn cho chính sách tài khóa và phân phối thu nhập.
  • Thứ hai, các nước cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam trên thị trường thế giới sẽ có cùng một hình thức ứng xử, tức là phá giá đồng nội tệ để tạo ra lợi thế xuất khẩu. Như vậy, Việt Nam chưa chắc đã được hưởng lợi từ việc phá giá đồng tiền, trong khi phải nhập hàng hóa hoặc nguyên nhiên liệu với giá cả cao hơn.
  • Thứ ba, hiện nay 3 thị trường lớn nhất của hàng xuất khẩu Việt Nam là Mỹ (20,8%), Nhật (12,5%) và Úc (7,3%). Một khi nhu cầu tại các thị trường chủ yếu này chưa phục hồi thì rất khó có khả năng gia tăng được xuất siêu.
  • Cuối cùng, việc phá giá đồng tiền có thể phá vỡ cân bằng quan hệ thương mại đã được tạo lập với các quốc gia đối tác trên cơ sở mức độ hội nhập kinh tế thương mại khu vực và quốc tế của Việt Nam. Giá phải trả cho sự mất ổn định này là rất lớn.

 

Vì cuộc khủng hoảng mang tính toàn cầu nên giải pháp phải có tính toàn cầu dựa trên sự phối hợp của tất cả các quốc gia. Đối với Việt Nam, kích thích cầu nội địa, phát triển thị trường trong nước, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu mục tiêu, đổi mới cách thức tiếp cận thị trường ở phạm vi các doanh nghiệp xuất khẩu sẽ là những giải pháp dài hạn để giảm sự phụ thuộc của tăng trưởng kinh tế vào xuất khẩu. Ý tưởng chủ yếu tập trung vào những cải cách mang tính cấu trúc để có một nền kinh tế « linh hoạt » trong đó xuất khẩu là một trong những véc tơ chủ đạo. Để xác định được các véc tơ chủ đạo khác, khuyến khích và đẩy mạnh nghiên cứu kinh tế theo hướng này có ý nghĩa quyết định.

 

 

Nguyễn Đức Khương (ISC Paris)