Roles of emerging economies in the world economic map
Nếu tiếp tục phát huy được các thế mạnh vốn có, quản lý tốt các chính sách kinh tế vĩ mô và tiến trình hội nhập kinh tế thế giới, 25-30 năm tới đây có thể sẽ là « kỷ nguyên của các nền kinh tế mới nổi ». Tuy nhiên, bên cạnh vị thế ngày càng lớn mạnh trên bản đồ kinh tế thế giới, các nền kinh tế này vẫn còn có nhiều phụ thuộc vào dòng vốn đầu tư của các nước phương Tây và phải đối mặt với một số thách thức lớn trong đó phải kể đến bất ổn định về chính trị và mất cân bằng trong phân phối thu nhập, cũng như quy mô và tốc độ phát triển của các ngành trong 10 năm tới đây.
Các nền kinh tế mới nổi : đang ở đâu ?
Theo góc nhìn được nhiều người chấp nhận nhất thì một nền kinh tế mới nổi (emerging market economy) là một nền kinh tế mà tổng thu nhập quốc dân ở mức thấp hoặc trung bình (theo xếp loại của Ngân hàng Thế giới) và đang trong giai đoạn chuyển đổi lên các bậc phát triển kinh tế cao hơn. Giai đoạn chuyển đổi này biểu hiện chủ yếu qua mức tăng trưởng cao, môi trường kinh tế-chính trị vĩ mô ổn định, và việc đẩy mạnh thực hiện các chính sách mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh đó, các yếu tố như sự phát triển của thị trường tài chính, mức độ kiểm soát ra vào đối các nguồn vốn đầu tư nước ngoài, chất lượng các chính sách điều tiết, kiểm soát thị truờng…cũng được tính đến khi lựa chọn các nền kinh tế mới nổi. Căn cứ vào các chỉ tiêu trên, tổ chức tư vấn tài chính quốc tế Standard and Poor’s thiết lập một danh sách gồm 34 quốc gia trong đó có Trung Quốc, Ấn độ, Thái Lan, Brazil, Ác-hen-ti-na, Ma-lay-sia…(số liệu tháng 12/2007). Trước đó, hai nền kinh tế mới nổi là Bồ Đào Nha và Hy Lạp đã được chuyển lên danh mục các nước phát triển vào các năm 1999 và 2001. Ngược lại, Cộng hòa Slovakia, sau một số năm ‘nổi’ lại bị xếp xuống danh sách các nước ở ngưỡng cửa của một nền kinh tế mới nổi trong đó có Việt Nam (từ tháng 12/2006).
Sau khi bắt đầu tiến hành cải cách kinh tế - tài chính nhằm thu hút đầu tư nước ngoài từ giữa thập kỷ 80, vai trò và vị thế của các nền kinh tế này trong nền kinh tế toàn cầu không ngừng gia tăng, về cả phương diện địa lý lẫn dân số và kinh tế. Tốc độ tăng trưởng luôn gấp hơn 2 lần các nước phát triển. Sự khác biệt này còn lớn hơn khi nền kinh tế thế giới đi vào giai đoạn suy thoái kể từ giữa nằm 20071 . Bên cạnh đó, thị trường tài chính - tiền tệ của các nền kinh tế mới nổi cũng có những mức đột phá ngoạn mục. Đến cuối năm 2006, tổng mức vốn hóa trên thị trường chứng khoán ở các nước này đã vượt mức 5000 tỷ đô la, tương đương với 12% tổng mức vốn hóa toàn thế giới, gấp nhiều lần so với 67 tỷ đô la năm 1982. Tỷ trọng trong tổng giá trị xuất khẩu thế giới tăng từ 20% năm 1992 đến 37% năm 2007. Có thể nói, với các nhà đầu tư nước ngoài, « các nước mới nổi là những thị trường khổng lồ không thể bỏ qua » trong nỗ lực tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao hiệu quả vốn đầu tư.
Trong các yếu tố dẫn đến những thay đổi trên phải kể đến những cải cách trong hệ thống tài chính nội địa (tăng tính năng động, tự chủ của ngân hàng nhà nước và các ngân hàng thương mại, cổ phần hóa hàng loạt các doanh nghiệp quốc doanh…), chính sách mở cửa thị trường (cho phép nhà đầu tư nước ngoài đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp cổ phần hóa hoặc cung cấp các dịch vụ tư vấn, tài chính…) và tự do hóa thương mại. Các giải pháp trên đã giúp các quốc gia mới nổi thu hút được vốn nhàn rỗi từ các nước phát triển nhằm giải quyết tình trạng thiếu ngân sách phục vụ sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng và giảm chi phí vốn đầu tư. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, dòng vốn tư nhân nước ngoài (foreign private capital flows) tiếp tục tăng mạnh, đạt 616 tỷ đô la trong năm 2007.
Vai trò gì trong tình hình kinh tế toàn cầu hiện nay ?
Kinh tế thế giới đang trong giai đoạn khó khăn: khủng hoảng tài chính trên hầu hết các thị trường, tăng trưởng giảm, áp lực của gia tăng lạm phát đặc biệt là tăng giá các mặt hàng lương thực thực phẩm và nguyên vật liệu. Sự khôi phục trở lại là điều có thể nghĩ đến nhưng không dễ dàng vì nhiều biến động kinh tế - chính trị - xã hội bất ngờ. Các chính sách kinh tế đều phải điều chỉnh theo thời thế mà không thể đưa ra được một giải pháp lâu dài. Trong bối cảnh này, vai trò « điều tiết » nền kinh tế thế giới của các nền kinh tế mới nổi là không thể phủ nhận vì hai lý do cơ bản :
Thứ nhất, vào thời điểm mà khủng hoảng địa ốc gây sốc mạnh cho nền kinh tế Mỹ và lan truyền đến hầu hết các thị trường phát triển khác, các nền kinh tế mới nổi góp phần « tháo gỡ » nguy cơ suy thoái toàn cầu do không bị ảnh hưởng trực tiếp và có sức đề kháng tương đối cao (các chỉ số kinh tế cơ bản ổn định và ở mức hợp lý). Không ít nhà đầu tư đã giảm thiểu được rủi ro từ việc đầu tư vốn vào các thị trường này. Hơn lúc nào hết, đây là một sự lựa chọn thay thế hợp lý.
Thứ hai, cán cân thương mại của nhiều nước phát triển, trong đó đặc biệt là Mỹ, được cải thiện nhờ vào hoạt động xuất nhập khẩu với các nước mới nổi, và từ đó tránh được nguy cơ suy thoái kinh tế. Rõ ràng, tiềm năng thị trường lớn và sức cầu cao trên các thị trường mới nổi đã đóng vai trò như một « thiết bị giảm sốc » cho hoạt động thương mại quốc tế. Trên phương diện này, chúng ta cũng thấy rõ ảnh hưởng và vị thế chiến lược « có một không hai » của các nước trong khối BRICs (Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc).
Động lực và đầu tầu của tăng trưởng ?
Những phân tích ở trên cho thấy, nền kinh tế các nước mới nổi không phụ thuộc nhiều vào biến động kinh tế Mỹ như những thời kỳ trước đây và đã bắt đầu chuyển sang giai đoạn « dẫn đường » cho tăng trưởng kinh tế thế giới. Không khó gì để đưa ra nhận định này khi biết rằng riêng Trung Quốc đã đóng góp 25% vào tăng trưởng kinh tế thế giới trong vòng năm năm qua. Các dự báo kinh tế của IMF và Ngân hàng Thế giới cũng không nằm ngoài xu hướng này. Sự trưởng thành trong quản lý kinh tế thị trường và những đầu tư lớn cho cơ sở hạ tầng đang là hai yếu tố chủ chốt tạo đà cho phát triển kinh tế ở các nước này. Tuy nhiên, khả năng đầu tầu cho nền kinh tế thế giới chỉ thành hiện thực nếu các thách thức và rủi ro tiềm ẩn được giải quyết triệt để khi mà các nền kinh tế mới nổi luôn có nhiều giai đoạn thăng trầm, có thể lên, xuống và « nổi lại ». Trường hợp Ac-hen-ti-na là một ví dụ cụ thể. Quốc gia này được coi là có nền kinh tế nổi từ cuối thế kỷ 19, nhưng sau đó không đạt được tiêu chuẩn này trong nhiều thập niên đến tận trước năm 1975. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng của các nền kinh tế nổi còn phụ thuộc nhiều vào đầu tư đến từ các nước phát triển.
Thách thức và rủi ro tiềm ẩn ?
Mặc dù cải cách kinh tế - tài chính và mở cửa thị trường vốn đã đem đến cho các nền kinh tế nổi tốc độ tăng trưởng cao, sức hút vốn đầu tư nước ngoài mạnh, sự năng động của các thành phần kinh tế trên thị trường nội địa…nhưng vẫn còn nhiều thách thức lớn kèm theo các rủi ro:
Thách thức đầu tiên là việc quản lý tiến trình mở cửa thị trường tài chính nội địa. Các nước Châu Mỹ La tinh và Đông Nam Á đã từng là nạn nhân của mở cửa quá nhanh và gấp. Mặc dù mở cửa là tất yếu để đón nguồn vốn đầu tư nước ngoài, nhưng mở thế nào,mở bao nhiêu và ở thời điểm nào luôn là các câu hỏi chưa có câu trả lời thích đáng. Kinh nghiệm từ các nước mới nổi cho thấy, việc mở cửa chỉ có hiệu quả khi nền kinh tế đã đạt được một số yêu cầu thể chế, tổ chức nhất định (có trình độ quản lý, thị trường năng động, nhà đầu tư được trang bị kiến thức đầu tư tương đối tốt…) và nên tiến hành dần dần. Điều cốt lõi là có được sự đồng bộ, nhất quán trong chính sách để tránh được sự quay ngoặt đột ngột của các nhà đầu tư nước ngoài vì khi mở cửa họ có thể rút vốn bất kỳ lúc nào, khi cảm thấy mức độ rủi ro cao hoặc nền kinh tế có dấu hiệu đi xuống.
Tiếp đến là việc quản lý lộ trình hội nhập kinh tế tài chính thế giới. Nhiều nghiên cứu cho thấy, lộ trình này có thể đưa đến các bất ổn trên thị trường tài chính do sự gia tăng phụ thuộc giữa các nước với nhau. Theo đó, những biến động bất lợi trên một thị trường sẽ dễ dàng được truyền đến các thị trường khác. Do hệ thống tài chính chưa vững vàng, nên các nền kinh tế mới nổi rất dễ bị tổn thương từ những cú sốc từ bên ngoài. Bên cạnh đó, hội nhập cũng góp phần làm gia tăng sự phân hóa giàu nghèo - vấn đề kinh tế, xã hội không dễ dàng giải quyết.
Cuối cùng là thách thức mang tính thể chế và các nguy cơ bất ổn chính trị. Dưới góc độ này, hàng loạt các yếu tố đòi hỏi một sự quan tâm thích đáng của các Chính phủ như là sự minh bạch trong các chính sách vĩ mô, năng lực của các chủ quản hành chính, chất lượng của các cơ quan điều tiết thị trường, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tiến trình tiêu chuẩn hóa quốc tế trong lĩnh vực kinh tế, chính sách bảo vệ các nhà đầu tư nhỏ...vv. Ngoài ra, ổn định chính trị cũng là vấn đề sống còn để giữ chân các nhà đầu tư nước ngoài.
1Theo Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng trung bình dự kiến của các nước mới nổi trong hai năm 2008 và 2009 cao hơn từ 2,5 đến 3 lần tốc độ tăng trưởng trung bình của các nước phát triển (6,5% so với 1,6% và 6,2% so với 2,0%).
Nguyễn Đức Khương (ISC Paris)


